06/03/2015
||||| 0 |||||
266

Dân tộc Ê Đê, La Hủ và phong tục cưới hỏi

Nhắc đến phong tục cưới hỏi ở Việt Nam thì ai cũng biết về sự phong phú và đa dạng bởi nước ta có rất nhiều dân tộc anh em. Nhưng có lẽ đặc biệt hơn cả là tục cưới hỏi của đồng bào Ê Đê và La Hủ.

1. Tục cưới hỏi của đồng bào Ê Đê:

Mùa xuân là mùa đơm hoa kết trái, là mùa của những lễ hội vui tươi. Bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn nếu như có dịp lên vùng cao thăm đồng bào Ê Ðê. Cụ thể hơn là bạn có thể  được xem “lệ” cưới hỏi của trai gái thuộc dân tộc này.

Dân tộc Ê Đê trong một ngày lễ hội đầu năm.

Dân tộc Ê Đê trong một ngày lễ hội đầu năm.

Mỗi dân tộc đều có những cách làm đẹp cho riêng họ. Người Ê Ðê thì khi trai gái đến độ tuổi trăng 15, 16 tuổi phải cà 6 chiếc răng cửa của hàm trên. Tại sao gọi là “phải”? Vì đây là tục lệ bắt buộc mà bạn trẻ nào đến tuổi này cũng phải làm theo, không từ chối được. Một chiếc vòng tay được xem như “giấy chứng nhận”, trao cho bạn trẻ vừa cà răng xong, và từ đó họ có quyền tự do “tìm hiểu”.

Khác với dân tộc Việt, dân tộc này có tục ở rể. Nghĩa là các cô gái phải tự đi kiếm chồng và chịu phí tổn toàn bộ tiền cưới. Khi người con gái của dân tộc Ê Đê đã chọn một chàng trai nào đó, họ sẽ nhờ ông “mối” đem chiếc vòng đồng sang nhà trai để hỏi chồng. Nếu chàng trai thấy “ưng bụng” thì sờ tay vào chiếc vòng đồng ấy, rồi làm lễ nhận vòng. Như vậy, sự “ràng buộc” giữa hai nhà đã có sợi dây thân thiết. Ðể thuận tiện hơn trong việc tìm hiểu cô dâu, nhà trai có thể “đem” cô gái về ở nhà mình.

Ngày tổ chức lễ cưới, họ nhà gái sẽ là nơi tổ chức lễ. Dĩ nhiên, lợn và rượu là hai thứ không thể thiếu trong lễ cưới. Có nhiều khác biệt độc đáo trong phong tục cưới hỏi của dân tộc Ê Đê như: Con lợn được mổ để lấy máu thoa vào chân cô dâu, chú rể, rồi cúng tổ tiên cầu cho hai trẻ được sống hạnh phúc. Sau đó, ông “mối” xúc cho cô, cậu mỗi người hai miếng cơm và ba chén rượu. Tất cả mọi người có mặt đều ăn một miếng thịt và một miếng ruột lợn. Ông trưởng họ cầm chiếc vòng đồng, cô dâu, chú rể sờ tay vào chiếc vòng đó, “tiết mục” này kết thúc lễ cưới.

Ba ngày sau đấy, hai vợ chồng sẽ về nhà chồng lấy các thứ tư trang, dụng cụ sản xuất về nhà gái, để vợ chồng cùng làm ăn. Tội ngoại tình đối với người Ê Ðê là một tội nặng, vì sự việc không đẹp này gây nên mùa màng bị thất thu cho cả buôn làng. Bởi vậy, kẻ ngoại tình phải phạt một con lợn trắng, hai cái bát đồng, để làm lễ tế đất. Sau khi Tế xong, hai người sẽ bị bắt trích máu ở đầu ngón tay để uống, rồi xuống suối tắm cho sạch.

2. Tục lệ cưới xin của dân tộc La Hủ:

Bạn hãy một lần đến tỉnh Lai Châu – một vùng cao phía Bắc – để thăm bà con dân tộc La Hủ. Phong tục cưới hỏi ở đây có những nét đẹp riêng biệt mà bạn khó có thể quên được. Tháng 11, 12 hàng năm – là dịp tết của người La Hủ – cũng là mùa cưới của các đôi trai gái yêu nhau. Chàng trai khi đã tìm hiểu cô gái tới độ “chín muồi”, thì có thể tới nhà cô gái ngủ một vài tối. Tục lệ cho phép anh, chị có thể ngủ chung giường.

Lễ na-nhí, tức lễ dạm hỏi như vùng xuôi, thường được diễn ra vào buổi tối. Bố mẹ và anh em nhà trai sẽ mời ông “mối” cùng sang nhà gái để “có lời”. Lễ vật tất nhiên không thể thiếu trong buổi gặp mặt này. Lễ vật gồm rượu và một thứ “quà quý” của rừng (“quà quý” này nhất thiết phải có thịt sóc rừng). Qua trò chuyện, nếu nhà gái thấy bằng lòng thì hai bên họ sẽ cùng uống rượu, nhắm thịt sóc.

Nét đẹp người con gái dân tộc La Hủ.

Nét đẹp người con gái dân tộc La Hủ.

Tiếp sau lễ dạm là lễ hỏi, hai lễ này cách nhau khoảng bảy, tám ngày. Theo tục lệ truyền thống, lễ hỏi sẽ gồm hai chai rượu và đặc biệt: số con sóc phải là số chẵn chứ không được số lẻ, chừng 6 đến 8 con. Nhà trai phải “tuân theo” số lượng con sóc của nhà gái: 6 hoặc 8 con, vì theo lệ từ xưa, số sóc không được ít hơn 4 nhưng cũng không được nhiều hơn 8. Người làm mối trong lễ hỏi này chính là người sẽ tự tay làm thịt sóc, chế biến các món ăn này sao cho ngon để mời nhà gái thưởng thức.

Trong buổi tiệc ăn uống vui vẻ ấy, hai bên họ trai – gái sẽ trao đổi về tiền cưới và thời gian ở rể. Ngày xưa, theo tục cưới của người La Hủ, tiền cưới khá “nặng túi”: những 70 đến 80 đồng bạc trắng. Trường hợp nhà rể nghèo, không có bạc trắng, thì anh phải ở lại làm rể ngay tối hôm đó. Thời gian ở rể bây giờ rút xuống còn từ 2 đến 4 năm, thời trước từ 8 đến 12 năm.

Nói về số lượng con sóc, nếu lễ ăn hỏi có số con sóc phải chẵn, thì trong lễ cưới quy định: đoàn đi đón dâu phải là số lẻ, trong đó tính luôn cả ông “mối” và chàng rể. Nhiệm vụ của ông “mối” là khi nhà trai đón dâu đi, ông “mối” phải trao tiền cưới cho nhà gái. Trên đường đi, cô dâu tuyệt đối không được ngoảnh lại nhìn ngôi nhà cô sinh ra và lớn lên, vì nếu vấp ngã, e sau này vợ chồng có chuyện cãi cọ không hay.

Khi đoàn rước dâu về đến nhà, bà mẹ chồng đã đứng đợi ở cửa. Bà lấy một nắm gạo xoa lên lưng con dâu, ngụ ý “xóa hết cỏ để con dâu không mang cỏ về, trên nương sẽ không có nhiều cỏ mọc“. Ngoài ra, lại còn có tục lệ: bà mẹ chồng trồng hai cây riềng ở hai bên cửa vào nhà, rồi buộc sợi chỉ trắng qua hai cây riềng. Khi bước vào nhà, cô dâu đi phía tay trái, chú rể đi phía tay phải, rồi chú rể dùng tay trái, cô dâu dùng tay phải “cắt” đứt sợi chỉ đó, bước vào nhà. Xong thủ tục này hai họ cùng nâng chén chúc những câu tốt lành và ăn uống vui vẻ.

Mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong lễ tục của mình, nhưng tất cả đều mang hàm ý chung là cầu cho sự hạnh phúc, tốt đẹp. 

SPY

Chia sẻ:

Giới thiệu về HDV

HDV

Bản tin du lịch cung cấp trao đổi thông tin bổ ích liên quan du lịch, nhà hàng khách sạn, những điểm vui chơi giải trí lành mạnh. Website mang tính chất nội bộ du lịch. Đón nhận HDV cùng đóng góp và đăng tin.

  • Email